Skip to main content

NGƯỜI CHỨT

 Tên tự gọi: Chứt.

Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách.

Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.

Dân số: 7.513 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/ 2019).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Người Chứt (nhóm Rục) có kỹ thuật trèo cây nổi tiếng để lấy mật ở các tổ ong trên cây cao. Họ leo thang bằng dây mây. Mỗi nấc thang là một vòng dây buộc vào thân cây, có chỗ đặt bàn chân. Leo đến đâu, buộc vòng thang đến đó.

Lịch sử: Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã, thuế khoá nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng thì các nhóm Rục, Sách cư trú tại vùng núi này ít nhất đã được trên 500 năm nay.

Hoạt động sản xuất: Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa.

Công cụ sản xuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Ðan lát chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Ðôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.

Ăn: Lương thực chủ yếu là ngô, sắn. Ngày ăn hai bữa trưa và tối. Những năm mất mùa, họ phải ăn bột báng (bột nhúc) đồ thay cơm quanh năm.

Ngày nay, nhiều gia đình người Chứt (nhóm Rục)

đã làm nhà, có vườn, ruộng trong các thung lũng.

Nhưng có một thời họ thường sống trong các hang đá, mái đá.

Mặc: Người Chứt không biết dệt vải, vải mặc mua hoặc trao đổi với người Việt, người Lào trong vùng giáp biên. Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay đồng bào ăn mặc giống như người Việt.

Ở: Họ quen ở trong các túp lều dùng dây buộc, dùng cột ngoãm hay ở trong các hang đá, mái đá. Cho đến trước năm 1954 các nhóm Rục, Arem chủ yếu vẫn sống trong các hang đá, mái đá. Ngày nay, họ sống tập trung ở các bản nhỏ trong các thung lũng. Nhà cửa đã khang trang hơn trước.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến là gùi có dây đeo vai, vác hoặc người kéo.

Quan hệ xã hội: Người Chứt gọi làng là Cà Vên. Mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia đình của một dòng họ cư trú. Ðôi khi các gia đình trong một họ lại cư trú ở nhiều làng khác nhau. Ðứng đầu mỗi làng là Pừ Cà Vên. Ông ta giữ luôn cả vai trò tôn giáo.

Trẻ em rất thích chơi đu. Người Chứt thường làm đu cho trẻ em nhỏ dưới các gốc cây to có bóng mát, treo đu ngay trên các cành cây.

Sinh hoạt tập thể, quan trọng nhất trong làng là vào những dịp lễ tết nông nghiệp.Gia đình nhỏ phụ quyền là hình thức phổ biến nhất. Mỗi gia đình chỉ gồm vợ, chồng và con cái chưa lấy vợ, chồng.

Sinh đẻ: Sắp đến ngày ở cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng. Thỉnh thoảng anh ta đến thăm nom, tiếp tế lương thực và đồ ăn uống cho vợ. Phụ nữ quen đẻ đứng và tự xoay sở lấy hết thảy mọi việc. Ðẻ xong, người sản phụ tự mình nhóm lửa, đốt nóng một hòn đá cuội để sẵn rồi dội nước lã vào cho bốc hơi nóng để xông khói. Sau 7 ngày, người chồng mới đến đón vợ con vào nhà.

Cưới xin: Trai gái đến tuổi trưởng thành, được tự do tìm hiểu yêu đương. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt không có tục ở rể.

Ma chay: Nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.

Nét nổi bật của ngôi nhà sàn người Chứt (nhóm Arem) là hai chiếc khau cút được bố trí ở hai đầu nóc nhà. Khau cút được làm từ hai đoạn cây lồ ô hoặc gỗ buộc chéo nhau tại thành một góc vuông. Nửa trên được vót nhọn, nửa dưới buộc vào rui của mái nhà. Khau cút chẳng những để giữ cho đầu mái nhà khỏi bị gió lật mà điều có ý nghĩa xã hội cơ bản đối với cư dân ở đây là: Dấu hiệu để nhận biết đồng tộc. Như vậy, Khau cút chẳng những là hiện tượng văn hoá phổ biến ở các cư dân nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me Thái mà còn cả ở một trong những cư dân Việt - Mường.

Thờ cúng: Tổ tiên được thờ tại nhà tộc trưởng. Khi tộc trưởng chết, việc thờ cúng chuyển sang người em trai kế. Khi nào các thế hệ trên không còn ai thì việc thờ cúng mới chuyển sang cho người ở thế hệ dưới.

Tin vào các loại ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp.... trong đó quan trọng nhất là ma làng.

Các nghi lễ nông nghiệp thường được thực hiện như lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa.

Văn nghệ: Người Chứt thích dùng đàn, sáo, hát các giai điệu khác nhau. Họ có nhiều truyện cổ tích, thần thoại, đặc biệt truyện kể về sự khai thiên lập địa và sinh ra con người.

Chơi: Trong các dịp lễ tết, trẻ em chơi cầu lông làm bằng lông gà, đánh găng, người lớn thổi sáo, hát hò.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam - NXB Giáo dục)

Comments

Popular posts from this blog

Độc đáo tục “cướp giọng gà ngày Tết" của người Pu Péo

  Người Pu Péo là một trong những cư dân lâu đời nhất ở vùng cao cực Bắc tỉnh Hà Giang. Tuy số người Pu Péo còn lại rất ít nhưng những phong tục mà họ giữ lại được quả thật rất độc đáo, trong đó phải kể tới tục “Cướp giọng gà ngày Tết”. Nam thanh nữ tú Pu Péo cùng chơi các trò chơi dân gian Nét đẹp truyền thống độc đáo của người Pu Péo Chủ yếu sống ở vùng cực Bắc tỉnh Hà Giang như huyện Đồng Văn, Yên Minh hay một số ít ở huyện Bắc Mê với dân số còn lại chưa tới 1.000 người nhưng họ còn lưu giữ được những phong tục kỳ lạ và nhiều nghi lễ dân gian phong phú. Ngoài “Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo” đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể, có thể kể tới tục “cướp giọng gà ngày Tết” được người Pu Péo duy trì như một nét đẹp truyền thống vô cùng độc đáo. Trước kia, người Pu Péo ở nhà sàn nhưng do rừng bị tàn phá nhiều nên việc tìm kiếm nguyên vật liệu trở nên khó khăn, họ đã phải chuyển sang ở nhà đất. Nhà của người Pu Péo có lối kiến trúc chuyên biệt, phân bố không gian sinh ...

NGƯỜI GIÉ-TRIÊNG

  Tên tự gọi : Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như: Gié, Triêng, Ve, Bnoong. Tên gọi khác : Cà Tang, Giang Rẫy. Nhóm địa phương:  Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả. Dân số : 63.322 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019). Ngôn ngữ : Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh. Lịch sử:  Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh. Ống đựng bằng tre là vật dụng khá phổ biến trong các gia đình người Gié-Triêng. Phần thân hộp được vót bớt để lắp khít vào nắp. Những chỗ dễ vỡ được bó bằng mây tết bản rộng. Trong ảnh là ống đựng có 2 ngăn: một ngăn đựng vôi và một ngăn đựng thuốc lá, là vật dụng cá nhân. Hiện vật Bảo tàng Dân tộc Việt Nam. Hoạt động sản xuất : Họ làm rẫy là chính. Xưa trồn...

Đắk Nông - bức tranh văn hóa đa sắc

 Ngày 1/1/2024, tỉnh Đắk Nông đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày thành lập. Được tách ra từ “người anh” Đắk Lắk nên Đắk Nông cũng có những nét tương đồng về nhiều mặt, không những là nơi quần cư của hơn 40 dân tộc anh em mà còn hội tụ nhiều giá trị văn hóa dân gian truyền thống. Từ lễ hội truyền thống Hằng năm, trong khí trời ấm áp của những ngày đầu năm mới, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông lại nô nức tổ chức các lễ hội truyền thống để cảm tạ thần linh, trời đất đã ban cho một mùa vàng bội thu. Thông qua lễ hội, đồng bào cầu xin Yàng (thần linh) ban những điều tốt lành cho cộng đồng và cũng muốn thể hiện tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên chinh phục thiên nhiên, thể hiện khát vọng về cuộc sống. Mỗi lễ hội có quy mô cũng như cách thức tổ chức khác nhau nhưng đều được thực hiện theo đúng nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, gồm hai phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang trọng, theo đúng nghi thức cổ truyền như cúng thần linh, đón bạn, cầu tà...