Skip to main content

NGƯỜI Ơ ĐU

 Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu.

Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).
Dân số: 428 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.

Lịch sử: Xưa kia người Ơ Ðu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Nhưng tập trung nhất vẫn là dọc sông Nặm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp xảy ra ở vùng này buộc họ phải rời đi nơi khác hay sống hoà lẫn với các cư dân mới đến. Hiện người Ơ Ðu ở hai bản đông nhất là Xốp Pột và Kim Hoà, xã Kim Ða huyện Tương Dương, Nghệ An. Ở Lào họ hợp với nhóm Tày Phoọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa.

Gùi có dây đeo trán là phương tiện vận chuyển đặc dụng nhất của người Ơ Ðu.

Hoạt động sản xuất: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Xưa họ còn biết dệt vải.

Ăn: Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.

Mặc: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.

Người Ơ Đu ở nhà sàn có 4 mái lợp bằng nứa hay tranh.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến hơn cả là gùi dây đeo bên trán. Gùi rất đẹp, bền chắc.

Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ. Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.

Chiếc áo tơi liền nón có hai quai đeo vai để che mưa, che nắng là sản phẩm độc đáo của người Ơ Ðu.

Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An.

Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Chơi: Người Ơ Ðu có vai trò chơi đánh khăng, chơi quay, ném còn, ô ăn quan.

(Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam - NXB Giáo dục)

Comments

Popular posts from this blog

Độc đáo tục “cướp giọng gà ngày Tết" của người Pu Péo

  Người Pu Péo là một trong những cư dân lâu đời nhất ở vùng cao cực Bắc tỉnh Hà Giang. Tuy số người Pu Péo còn lại rất ít nhưng những phong tục mà họ giữ lại được quả thật rất độc đáo, trong đó phải kể tới tục “Cướp giọng gà ngày Tết”. Nam thanh nữ tú Pu Péo cùng chơi các trò chơi dân gian Nét đẹp truyền thống độc đáo của người Pu Péo Chủ yếu sống ở vùng cực Bắc tỉnh Hà Giang như huyện Đồng Văn, Yên Minh hay một số ít ở huyện Bắc Mê với dân số còn lại chưa tới 1.000 người nhưng họ còn lưu giữ được những phong tục kỳ lạ và nhiều nghi lễ dân gian phong phú. Ngoài “Lễ cúng thần rừng của người Pu Péo” đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể, có thể kể tới tục “cướp giọng gà ngày Tết” được người Pu Péo duy trì như một nét đẹp truyền thống vô cùng độc đáo. Trước kia, người Pu Péo ở nhà sàn nhưng do rừng bị tàn phá nhiều nên việc tìm kiếm nguyên vật liệu trở nên khó khăn, họ đã phải chuyển sang ở nhà đất. Nhà của người Pu Péo có lối kiến trúc chuyên biệt, phân bố không gian sinh ...

NGƯỜI GIÉ-TRIÊNG

  Tên tự gọi : Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như: Gié, Triêng, Ve, Bnoong. Tên gọi khác : Cà Tang, Giang Rẫy. Nhóm địa phương:  Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả. Dân số : 63.322 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số 01/4/2019). Ngôn ngữ : Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh. Lịch sử:  Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh. Ống đựng bằng tre là vật dụng khá phổ biến trong các gia đình người Gié-Triêng. Phần thân hộp được vót bớt để lắp khít vào nắp. Những chỗ dễ vỡ được bó bằng mây tết bản rộng. Trong ảnh là ống đựng có 2 ngăn: một ngăn đựng vôi và một ngăn đựng thuốc lá, là vật dụng cá nhân. Hiện vật Bảo tàng Dân tộc Việt Nam. Hoạt động sản xuất : Họ làm rẫy là chính. Xưa trồn...

Đắk Nông - bức tranh văn hóa đa sắc

 Ngày 1/1/2024, tỉnh Đắk Nông đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày thành lập. Được tách ra từ “người anh” Đắk Lắk nên Đắk Nông cũng có những nét tương đồng về nhiều mặt, không những là nơi quần cư của hơn 40 dân tộc anh em mà còn hội tụ nhiều giá trị văn hóa dân gian truyền thống. Từ lễ hội truyền thống Hằng năm, trong khí trời ấm áp của những ngày đầu năm mới, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Đắk Nông lại nô nức tổ chức các lễ hội truyền thống để cảm tạ thần linh, trời đất đã ban cho một mùa vàng bội thu. Thông qua lễ hội, đồng bào cầu xin Yàng (thần linh) ban những điều tốt lành cho cộng đồng và cũng muốn thể hiện tinh thần lạc quan, ý chí vươn lên chinh phục thiên nhiên, thể hiện khát vọng về cuộc sống. Mỗi lễ hội có quy mô cũng như cách thức tổ chức khác nhau nhưng đều được thực hiện theo đúng nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, gồm hai phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ được tổ chức trang trọng, theo đúng nghi thức cổ truyền như cúng thần linh, đón bạn, cầu tà...